Lối Suy Nghĩ Tiêu Cực Cố Hữu V Lỗi Tư Duy

Lối Suy Nghĩ Tiêu Cực Cố Hữu V Lỗi Tư Duy

Làm chủ tư duy, thay đổi vận mệnh. Cách suy nghĩ của mọi người quyết định cảm nhận của họ. Nhận biết các kiểu tư duy vô bổ, lối suy nghĩ tiêu cực và lỗi tư duy là rất quan trọng giúp tạo nên sự thay đổi và phát triển tư duy tích cực.

(1) Khái quát quá mức (Chủ nghĩa bi quan): Là đưa ra kết luận chung dựa trên một sự việc riêng lẻ hoặc một phần bằng chứng thu thập được. Nếu một việc không tốt xảy ra một lần, bạn suy đoán rằng nó sẽ lặp đi lặp lại. Lối suy nghĩ này thường bao gồm các cụm từ “luôn luôn” hoặc “không bao giờ”.

Ví dụ: Tôi quên hoàn thành dự án đúng hạn. Tôi không bao giờ làm đúng cả.

Anh ấy không muốn hẹn hò với tôi. Tôi sẽ luôn luôn cô đơn.

(2) Chọn lọc tiêu cực: Là tập trung vào các mặt hạn chế trong khi bỏ qua các mặt tích cực. Bỏ qua thông tin quan trọng mâu thuẫn với quan điểm (tiêu cực) của bạn về một tình huống nhất định.

Ví dụ: Sếp nói rằng phần lớn những báo cáo của tôi rất hay nhưng cũng có một số sai sót phải sửa chữa … chắc hẳn anh ấy nghĩ rằng tôi thật vô dụng.

(3) Chủ nghĩa hoàn hảo: Suy nghĩ kiểu “được ăn cả, ngã về không” (ví dụ: chỉ có đúng hoặc sai; tốt hoặc xấu). Là xu hướng nhìn nhận mọi thứ quá cực đoan mà không có mức độ trung hòa.

Ví dụ: Tôi đã phạm rất nhiều sai lầm. Nếu tôi không thể làm việc đó một cách hoàn hảo, tôi có thể sẽ không quan tâm đến nó nữa. Tôi sẽ không thể hoàn thành tất cả những việc này, vậy nên tôi cũng không muốn bắt tay vào làm.

Công việc này rất tệ… không có gì tốt cả.

(4) Cá nhân hóa: Nhận trách nhiệm về một việc không phải là lỗi của bạn. Nghĩ rằng cách hành xử của mọi người là để phản ứng lại với bạn, hoặc có liên quan đến bạn.

Ví dụ: John đang có tâm trạng tồi tệ. Chắc hẳn là do tôi rồi.

Rõ ràng là cô ấy không thích tôi, nếu không thì cô ấy đã chào tôi rồi.

(5) Thảm họa: Đánh giá quá cao khả năng xảy ra thảm họa. Nghĩ đến một điều gì đó không thể chịu nổi hoặc không thể chấp nhận được.

Ví dụ: Tôi sẽ trở thành một kẻ ngốc và mọi người sẽ cười nhạo tôi.

Nếu tôi không thể hiện tốt trong công việc, tôi sẽ bị sa thải.

(6) Lập luận theo cảm xúc: Bị cuốn theo cảm xúc sai lầm về sự việc. Những suy nghĩ tiêu cực về bản thân bạn là đúng vì bạn cảm thấy đúng.

Ví dụ: Tôi thấy mình thất bại; do đó tôi là một người thất bại.

Tôi thấy mình xấu xí; do đó tôi quả thật xấu xí.

Tôi cảm thấy tuyệt vọng; do đó hoàn cảnh của tôi là vô vọng.

(7) Đọc suy nghĩ: Đưa ra các giả định về suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của người khác mà không kiểm chứng lại.

Ví dụ: John đang nói chuyện với Molly nên tôi nghĩ rằng anh thích cô ấy hơn tôi.

Chắc hẳn anh ấy nghĩ tôi thật ngu ngốc trong cuộc phỏng vấn.

(8) Lỗi dự đoán: Dự đoán kết quả và đảm bảo dự đoán của bạn là một thực tế. Những kỳ vọng tiêu cực này có thể tự biến thành hiện thực; việc dự đoán những gì có thể làm dựa trên hành vi trong quá khứ có thể làm cản trở khả năng thay đổi.

Ví dụ: Tôi luôn hành xử như vậy; Tôi sẽ không bao giờ có thể thay đổi.

Việc này sẽ không có kết quả nên không cần cố gắng làm gì.

Mối quan hệ này đúng là thất bại.

(9) Nên báo cáo: Sử dụng kiểu tuyên bố “nên” hoặc “phải” có thể tạo ra những kỳ vọng không thực tế của bản thân và người khác. Nó liên quan đến hoạt động bằng các quy tắc cứng nhắc và không linh hoạt.

Ví dụ: Tôi không nên tức giận.

Mọi người nên lúc nào cũng đối xử tốt với tôi chứ.

(10) Phóng đại / Giảm thiểu: Là xu hướng phóng đại tầm quan trọng của thông tin hoặc những trải nghiệm tiêu cực, trong khi làm giảm tầm quan trọng của thông tin hoặc trải nghiệm tích cực.

Ví dụ: Anh ấy bắt gặp tôi đã làm đổ thứ gì đó lên áo của mình. Anh ấy nói sẽ đi chơi với tôi lần nữa, nhưng tôi cá là sẽ không có cuộc gọi nào cả.

Việc kề bên an ủi bạn của tôi khi mẹ cô ấy qua đời vẫn không bù đắp được khoảng thời gian tôi đã cư xử lỗ mãng với cô ấy vào năm ngoái.

Kiểm soát suy nghĩ tiêu cực

  1. Xác định sự bóp méo
  2. Thay thế bằng suy nghĩ tích cực
  3. Kiểm chứng lại
  4. Chỉ ra thiếu sót của bạn

Ví dụ:

Anh ấy không muốn đi chơi với tôi. Tôi sẽ luôn cô đơn.

  1. Xác định sự bóp méo: Nhận ra rằng đây là một suy nghĩ tiêu cực và lỗi tư duy.
  2. Thay thế suy nghĩ tích cực: Này, anh ấy cũng chỉ là một đối tượng thôi. Ngoài kia không thiếu đàn ông mà!
  3. Kiểm chứng lại: Đúng vậy, cũng có nhiều người khác quan tâm đến tôi. Có thể chỉ là chúng tôi không hợp nhau thôi.
  4. Chỉ ra thiếu sót của bạn: Có thể việc nói với anh ấy tất cả những điều đó mà không đợi phản hồi của chàng là hơi bốc đồng. Tôi phải học cách chờ tín hiệu trước khi tiếp tục.

 

LILA

Làm chủ tư duy, thay đổi vận mệnh. Cách suy nghĩ của mọi người quyết định cảm nhận của họ. Nhận biết các kiểu tư duy vô bổ, lối suy nghĩ tiêu cực và lỗi tư duy là rất quan trọng giúp tạo nên sự thay đổi và phát triển tư duy tích cực.

(1) Khái quát quá mức (Chủ nghĩa bi quan): Là đưa ra kết luận chung dựa trên một sự việc riêng lẻ hoặc một phần bằng chứng thu thập được. Nếu một việc không tốt xảy ra một lần, bạn suy đoán rằng nó sẽ lặp đi lặp lại. Lối suy nghĩ này thường bao gồm các cụm từ “luôn luôn” hoặc “không bao giờ”.

Ví dụ: Tôi quên hoàn thành dự án đúng hạn. Tôi không bao giờ làm đúng cả.

Anh ấy không muốn hẹn hò với tôi. Tôi sẽ luôn luôn cô đơn.

(2) Chọn lọc tiêu cực: Là tập trung vào các mặt hạn chế trong khi bỏ qua các mặt tích cực. Bỏ qua thông tin quan trọng mâu thuẫn với quan điểm (tiêu cực) của bạn về một tình huống nhất định.

Ví dụ: Sếp nói rằng phần lớn những báo cáo của tôi rất hay nhưng cũng có một số sai sót phải sửa chữa … chắc hẳn anh ấy nghĩ rằng tôi thật vô dụng.

(3) Chủ nghĩa hoàn hảo: Suy nghĩ kiểu “được ăn cả, ngã về không” (ví dụ: chỉ có đúng hoặc sai; tốt hoặc xấu). Là xu hướng nhìn nhận mọi thứ quá cực đoan mà không có mức độ trung hòa.

Ví dụ: Tôi đã phạm rất nhiều sai lầm. Nếu tôi không thể làm việc đó một cách hoàn hảo, tôi có thể sẽ không quan tâm đến nó nữa. Tôi sẽ không thể hoàn thành tất cả những việc này, vậy nên tôi cũng không muốn bắt tay vào làm.

Công việc này rất tệ… không có gì tốt cả.

(4) Cá nhân hóa: Nhận trách nhiệm về một việc không phải là lỗi của bạn. Nghĩ rằng cách hành xử của mọi người là để phản ứng lại với bạn, hoặc có liên quan đến bạn.

Ví dụ: John đang có tâm trạng tồi tệ. Chắc hẳn là do tôi rồi.

Rõ ràng là cô ấy không thích tôi, nếu không thì cô ấy đã chào tôi rồi.

(5) Thảm họa: Đánh giá quá cao khả năng xảy ra thảm họa. Nghĩ đến một điều gì đó không thể chịu nổi hoặc không thể chấp nhận được.

Ví dụ: Tôi sẽ trở thành một kẻ ngốc và mọi người sẽ cười nhạo tôi.

Nếu tôi không thể hiện tốt trong công việc, tôi sẽ bị sa thải.

(6) Lập luận theo cảm xúc: Bị cuốn theo cảm xúc sai lầm về sự việc. Những suy nghĩ tiêu cực về bản thân bạn là đúng vì bạn cảm thấy đúng.

Ví dụ: Tôi thấy mình thất bại; do đó tôi là một người thất bại.

Tôi thấy mình xấu xí; do đó tôi quả thật xấu xí.

Tôi cảm thấy tuyệt vọng; do đó hoàn cảnh của tôi là vô vọng.

(7) Đọc suy nghĩ: Đưa ra các giả định về suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của người khác mà không kiểm chứng lại.

Ví dụ: John đang nói chuyện với Molly nên tôi nghĩ rằng anh thích cô ấy hơn tôi.

Chắc hẳn anh ấy nghĩ tôi thật ngu ngốc trong cuộc phỏng vấn.

(8) Lỗi dự đoán: Dự đoán kết quả và đảm bảo dự đoán của bạn là một thực tế. Những kỳ vọng tiêu cực này có thể tự biến thành hiện thực; việc dự đoán những gì có thể làm dựa trên hành vi trong quá khứ có thể làm cản trở khả năng thay đổi.

Ví dụ: Tôi luôn hành xử như vậy; Tôi sẽ không bao giờ có thể thay đổi.

Việc này sẽ không có kết quả nên không cần cố gắng làm gì.

Mối quan hệ này đúng là thất bại.

(9) Nên báo cáo: Sử dụng kiểu tuyên bố “nên” hoặc “phải” có thể tạo ra những kỳ vọng không thực tế của bản thân và người khác. Nó liên quan đến hoạt động bằng các quy tắc cứng nhắc và không linh hoạt.

Ví dụ: Tôi không nên tức giận.

Mọi người nên lúc nào cũng đối xử tốt với tôi chứ.

(10) Phóng đại / Giảm thiểu: Là xu hướng phóng đại tầm quan trọng của thông tin hoặc những trải nghiệm tiêu cực, trong khi làm giảm tầm quan trọng của thông tin hoặc trải nghiệm tích cực.

Ví dụ: Anh ấy bắt gặp tôi đã làm đổ thứ gì đó lên áo của mình. Anh ấy nói sẽ đi chơi với tôi lần nữa, nhưng tôi cá là sẽ không có cuộc gọi nào cả.

Việc kề bên an ủi bạn của tôi khi mẹ cô ấy qua đời vẫn không bù đắp được khoảng thời gian tôi đã cư xử lỗ mãng với cô ấy vào năm ngoái.

Kiểm soát suy nghĩ tiêu cực

  1. Xác định sự bóp méo
  2. Thay thế bằng suy nghĩ tích cực
  3. Kiểm chứng lại
  4. Chỉ ra thiếu sót của bạn

Ví dụ:

Anh ấy không muốn đi chơi với tôi. Tôi sẽ luôn cô đơn.

  1. Xác định sự bóp méo: Nhận ra rằng đây là một suy nghĩ tiêu cực và lỗi tư duy.
  2. Thay thế suy nghĩ tích cực: Này, anh ấy cũng chỉ là một đối tượng thôi. Ngoài kia không thiếu đàn ông mà!
  3. Kiểm chứng lại: Đúng vậy, cũng có nhiều người khác quan tâm đến tôi. Có thể chỉ là chúng tôi không hợp nhau thôi.
  4. Chỉ ra thiếu sót của bạn: Có thể việc nói với anh ấy tất cả những điều đó mà không đợi phản hồi của chàng là hơi bốc đồng. Tôi phải học cách chờ tín hiệu trước khi tiếp tục.

 

LILA

GIA ĐÌNH “BỆNH LÝ”

Trong nhiều gia đình bệnh lý, sự kết hợp giữa một người cha hoặc mẹ mang đặc điểm nhân cách ái kỷ và một người còn lại có xu hướng rối loạn nhân cách ranh giới (borderline) thường tạo nên một trường bạo lực tâm lý liên tục. Người ái kỷ cần kiểm soát, thống trị và luôn...

HÃY RỜI ĐI KHỎI CHA MẸ ĐỘC HẠI

  Trong văn hóa Việt Nam, cha mẹ luôn được coi là gốc rễ, là nơi con cái phải kính trọng và chăm sóc trọn đời. Tuy nhiên, không phải mọi cha mẹ đều mang đến sự an toàn và tình yêu lành mạnh. Với những cha mẹ độc hại, đặc biệt khi có đặc điểm của rối loạn nhân...

NGOẠI TÌNH “MÃN TÍNH”

  Rối loạn nhân cách nhóm B bao gồm bốn dạng chính: ái kỷ (narcissistic), ranh giới (borderline), chống đối xã hội (antisocial) và kịch tính (histrionic). Điểm chung của nhóm này là sự kịch tính, hỗn loạn, bốc đồng và khó kiểm soát cảm xúc, khiến các mối quan hệ...

MỐI QUAN HỆ ĐỘC HẠI

Một mối quan hệ, dù là tình yêu, hôn nhân hay gia đình, đều cần dựa trên nền tảng tôn trọng, an toàn và nâng đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, không phải lúc nào điều này cũng diễn ra. Khi một mối quan hệ trở thành nguồn gốc của căng thẳng, sợ hãi và tổn thương triền miên, nó...

RỐI LOẠN NHÂN CÁCH HỖN LOẠN

Rối loạn nhân cách nhóm B, bao gồm nhân cách ranh giới (borderline), chống đối xã hội (antisocial), ái kỷ (narcissistic) và kịch tính (histrionic), thường gắn liền với các mối quan hệ hỗn loạn, kịch tính và đầy căng thẳng. Khi yêu hoặc kết hôn với một người thuộc nhóm...

LGBT+ – NỖI ĐAU MANG TÊN CÔ ĐƠN

  Cô đơn là trải nghiệm mà ai cũng từng nếm trải, nhưng với cộng đồng LGBT+, nỗi cô đơn thường mang màu sắc đặc biệt sâu và đau hơn. Khi một người lớn lên trong môi trường bị kỳ thị, từ chối hay không được công nhận, não bộ họ liên tục ghi nhận tín hiệu “mình...

CÔ ĐƠN DƯỚI GÓC NHÌN SINH HỌC THẦN KINH

  Cô đơn không chỉ là cảm giác trống trải hay nỗi buồn thoáng qua, mà thực sự là một trải nghiệm đau đớn ở cấp độ sinh học thần kinh. Con người là sinh vật xã hội, bộ não chúng ta tiến hóa để duy trì kết nối với nhóm nhằm đảm bảo sự tồn tại. Khi bị tách rời hoặc...

CÔ ĐƠN VÀ TRẦM CẢM

  Cô đơn là một trải nghiệm phổ biến, ai trong chúng ta cũng từng trải qua. Thế nhưng, khi nỗi cô đơn kéo dài và không được xoa dịu bằng sự kết nối, sự lắng nghe và những vòng tay ấm áp, nó có thể trở thành mảnh đất màu mỡ cho trầm cảm hình thành. Về mặt sinh học...

CĂNG THẲNG VÀ KHẢ NĂNG THỤ THAI, MANG THAI

  Hệ thống đáp ứng với căng thẳng (stress response system) là một cơ chế sinh học phức tạp, trong đó trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận (HPA axis) đóng vai trò trung tâm. Khi cơ thể đối mặt với áp lực, hormone cortisol và catecholamine (adrenaline,...

KHI ĐÀN ÔNG PHÂN LY

  Nhiều người đàn ông trưởng thành mang trong mình những vết thương vô hình từ sang chấn và bạo hành thời thơ ấu. Trải qua những tình huống bị xâm phạm, bị làm nhục hoặc phải sống trong môi trường bạo lực, họ học cách “cắt kết nối” khỏi cảm xúc để sinh tồn. Sự...

TOXIC STRESS THỜI THƠ ẤU VÀ DI SẢN SANG CHẤN

Trong những năm đầu đời, trẻ em cần một môi trường an toàn, ổn định và đầy yêu thương để phát triển lành mạnh. Tuy nhiên, không phải đứa trẻ nào cũng có được nền tảng đó. Nhiều em phải trải qua trải nghiệm bất lợi thời thơ ấu (Adverse Childhood Experiences – ACEs) như...

GIA ĐÌNH “BỆNH LÝ”

Trong nhiều gia đình bệnh lý, sự kết hợp giữa một người cha hoặc mẹ mang đặc điểm nhân cách ái kỷ và một người còn lại có xu hướng rối loạn nhân cách ranh giới (borderline) thường tạo nên một trường bạo lực tâm lý liên tục. Người ái kỷ cần kiểm soát, thống trị và luôn...

HÃY RỜI ĐI KHỎI CHA MẸ ĐỘC HẠI

  Trong văn hóa Việt Nam, cha mẹ luôn được coi là gốc rễ, là nơi con cái phải kính trọng và chăm sóc trọn đời. Tuy nhiên, không phải mọi cha mẹ đều mang đến sự an toàn và tình yêu lành mạnh. Với những cha mẹ độc hại, đặc biệt khi có đặc điểm của rối loạn nhân...

RỜI KHỎI MỐI QUAN HỆ ĐỘC HẠI KHI QUÁ MUỘN

  Trong các mối quan hệ tình cảm, tình yêu và lòng trung thành thường khiến chúng ta tin rằng sự kiên nhẫn có thể thay đổi người kia. Tuy nhiên, khi sống cùng người mắc rối loạn nhân cách nhóm B như ái kỷ, ranh giới, chống đối xã hội hay kịch tính, sự kiên nhẫn...

NGOẠI TÌNH “MÃN TÍNH”

  Rối loạn nhân cách nhóm B bao gồm bốn dạng chính: ái kỷ (narcissistic), ranh giới (borderline), chống đối xã hội (antisocial) và kịch tính (histrionic). Điểm chung của nhóm này là sự kịch tính, hỗn loạn, bốc đồng và khó kiểm soát cảm xúc, khiến các mối quan hệ...